Nhân quyền được mở rộng ra sao?

By Đặng Quân

 

Các dân tộc trên thế giới, từ các bộ lạc trong rừng thẳm núi cao hay các vương triều rực rỡ ở những vùng đồng bằng phì nhiêu đều đưa ra những khái niệm về công lý, bình đẳng, sự tôn trọng và xác định rõ các giá trị giữa các mối liên kết, vua tôi, thầy trò, phu phụ, đạo hiếu, huynh đệ, tình làng nghĩa xóm v.v…

 

Tuy nhiên, vẫn chỉ có thiểu số những kẻ nắm quyền lực cai trị mới xác định những quyền bất khả xâm phạm dành riêng cho vua chúa, quan quyền. Các tội như “phạm nhan”, “khi quân”, “tru di cửu tộc”… đủ nói lên thân phận người dân chỉ là tầng lớp dưới cúc cung tận tụy với các tầng lớp quan lại phụ mẫu ở trên. Nó không hề có quan niệm con người có các quyền căn bản nhất định, đơn giản vì họ là con người.

 

Nhiều xã hội cận đại cho rằng người cai trị có nghĩa vụ cai quản một cách hợp lý và vì lợi ích của mọi người. Tuy nhiên, người ta cho rằng nghĩa vụ này xuất phát từ mệnh lệnh của Đấng Tối cao, hoặc xuất phát từ truyền thống, chứ không dựa trên khái niệm các quyền cá nhân mà người dân thường có thể dựa vào để bảo vệ bản thân trước những kẻ cai trị bất công.

 

Người đầu tiên có đề cập hầu tạo tiền đề phát triển một lý thuyết toàn diện về nhân quyền là triết gia người Anh John Locke (1632-1704). Locke cho rằng người dân tạo nên các xã hội, để từ đó hình thành nên các chính phủ đảm bảo quyền được hưởng các quyền “tự nhiên” của người dân.

 

Locke quan niệm chính phủ là một “khế ước xã hội” giữa tầng lớp cai trị và dân chúng. Ông cho rằng công dân chỉ trung thành với những chính phủ bảo vệ các quyền của họ. Như thế, tính hợp pháp của chính phủ chỉ tồn tại nếu tôn trọng và bảo vệ các quyền của công dân một cách có hệ thống.

 

Tuy nhiên, lý thuyết của Locke còn nhiều hạn chế. Thực ra ông không xét tới quyền của tất cả mọi người. Trọng tâm thực sự của ông là bảo vệ quyền của nam giới châu Âu, những người có sở hữu tài sản. Trong khi đó, phụ nữ, những người bản địa, người hầu, lao động được trả lương không được công nhận là những người được hưởng đầy đủ các quyền. Dù vậy, tư tưởng của Locke và những người khác cùng thời với ông là một bước đột phá quan trọng.

 

Sau đó, rất nhiều biến động chính trị lớn trong hai thế kỷ qua liên quan đến việc mở rộng hàng loạt quyền được bảo vệ. Xu thế này dần mở rộng đến quyền bầu cử cho mọi công dân, cho phép người lao động đấu tranh đòi tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc. Và xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử vì giới tính và chủng tộc.

 

Trong giai đoạn này, các nhóm bị áp bức đã sử dụng các quyền tự do hạn chế của họ để đấu tranh đòi sự công nhận pháp lý đối với các quyền cơ bản vẫn bị phủ nhận. Và theo thời gian tiếp tục định hình cho một lập luận cốt lõi được đưa ra là “chúng ta” chứ không chỉ có “các anh” mới là con người. Điều đó hàm nghĩa rằng nếu đã là người, thì tất cả chúng ta đều có các quyền như nhau, đều được nhà nước quan tâm và tôn trọng.

 

Lập luận cốt lõi này được chấp nhận đã dẫn tới những thay đổi các thể chế chính trị xã hội cấp tiến trên toàn thế giới. Trên toàn cầu, chế độ nào phủ nhận các quyền con người cơ bản của công dân, chế độ đó sẽ không ổn định lâu dài.

 

Sự sụp đổ của Liên Xô là một minh chứng. Chính công dân ở các nước khối cộng sản càng ngày càng không thể chấp nhận thực tế là các quyền con người bị phủ nhận một cách có hệ thống, đang khi được cả thế giới trân trọng. Ở Nam và Trung Mỹ, các chính quyền quân sự áp bức đã sụp đổ trong những năm 1980. Ở châu Á và châu Phi, tiến trình tự do hóa và dân chủ hóa diễn ra không mấy suôn sẻ. Nhưng tiến trình đó vẫn tiếp tục đi tới để tất nhiên trở thành hiện thực trong tương lai.

Please follow and like us:
error20
fb-share-icon0
Tweet 20
fb-share-icon20
Related articles
We work towards ensuring a life free from inequality and discrimination for every human.
[wpforms id="6"]
English